COCIN

COCIN Cung cấp sản phẩm an toàn, ích lợi sức khoẻ

Fifa phân biệt đối xử, trọng nam khinh nữ, thật buồn cho sự liêm chính đã tàn lụi khỏi nền bóng đá.
18/06/2026

Fifa phân biệt đối xử, trọng nam khinh nữ, thật buồn cho sự liêm chính đã tàn lụi khỏi nền bóng đá.

🍠 GÓC ẨM THỰC & LỊCH SỬ – KHOAI LANG CHƯA TỪNG TỒN TẠI Ở VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1600?!🧺 Ai cũng nghĩ khoai lang, ngô, sắn là...
25/05/2026

🍠 GÓC ẨM THỰC & LỊCH SỬ – KHOAI LANG CHƯA TỪNG TỒN TẠI Ở VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1600?!

🧺 Ai cũng nghĩ khoai lang, ngô, sắn là “lương thực ngàn đời” của người Việt – nhất là qua câu ca dao nổi tiếng:

“Được mùa chớ phụ ngô khoai
Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng”

Nhưng sự thật khiến bạn sốc nhẹ:
Khoai lang và ngô đều là “hàng nhập khẩu” – và chưa từng có ở Việt Nam trước thế kỷ 17!

Năm 1496, Columbus mang hạt ngô từ châu Mĩ về Bồ Đào Nha. Ngô nhanh chóng lan sang châu Á, tới Trung Hoa. Tới năm 1597, Phùng Khắc Khoan đi sứ nhà Minh, mang giống ngô về nước.

Trước đó, người Việt chưa từng biết đến ngô!

Còn khoai lang thì sao? Nguồn gốc càng ly kỳ hơn nữa!

Theo nghiên cứu của Lisa Matisoo-Smith (chuyên gia di truyền nhân chủng học): Khoảng năm 1000 sau Công nguyên, một nhóm thổ dân đảo Mangaia (Nam Thái Bình Dương) vượt đại dương sang Peru. Họ… rước về vài cô dâu người bản địa, và sính lễ là vài củ khoai lang!

Khoai lang được đem về châu Úc và trồng xen với khoai môn, cho hiệu quả cao. Năm 1568, thuyền trưởng người Tây Ban Nha Mendaña đến đảo này, thấy khoai lang đã được trồng từ lâu. Họ ngỡ ngàng: "Củ khoai châu Mỹ đã vượt Thái Bình Dương từ trước cả chúng tôi?"

Tới năm 1578: khoai lang có mặt tại Luzon – Philippines. Sang 1594: đến Phúc Kiến – Trung Quốc. Sau đó mới lan dần tới Việt Nam (khả năng cùng thời với ngô).

Nói cách khác, hành trình củ khoai: Châu Mỹ → Châu Úc → Philippines → Trung Hoa → Việt Nam.

Nên dù ngô hay khoai thì cũng đều vượt đông tây hải mà về Nam vậy.

🍋 GÓC ẨM THỰC – BẤT NGỜ: CHANH TA LÀ ĐẶC SẢN XUẤT KHẨU THỜI LÝ?!Ít ai ngờ rằng chanh ta – loại quả chua quen thuộc trong...
24/05/2026

🍋 GÓC ẨM THỰC – BẤT NGỜ: CHANH TA LÀ ĐẶC SẢN XUẤT KHẨU THỜI LÝ?!

Ít ai ngờ rằng chanh ta – loại quả chua quen thuộc trong bếp Việt – lại từng là mặt hàng xuất khẩu sang Trung Hoa hơn 800 năm trước.

Theo sách Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi (thời Nam Tống), vùng Lưỡng Quảng từng nhập loại quả có tên "Lê mông tử" – hình dáng như mận to, giống quất nhỏ, vị cực kỳ chua, được ghi rõ là "đến từ Nam Phiên" (tức nước ta).

黎朦子,如大梅,复似小橘。味极酸。或云自南蕃来。番禺人多不用醯,专以此物调羹,其酸可知。又以蜜煎盐渍暴乾,收食之。
“Người Quảng Châu không dùng giấm, chỉ dùng quả này để nêm canh – đủ biết nó chua đến mức nào!”

Họ thậm chí còn ướp mật, muối và phơi khô để ăn dần, giống như xí muội – một kỹ thuật bảo quản rất giống với truyền thống ẩm thực Việt.

Nhiều người tin rằng từ "lemon" trong tiếng Anh có thể bắt nguồn từ chính ‘lê mông tử’ – một chi tiết thú vị mà càng khiến món chanh ta thêm phần “toả sáng” trong lịch sử giao thương Đông Á.

GÓC ẨM THỰC – CÓ THỰC LÀ DƯƠNG QUÝ PHI ĂN VẢI CỐNG TỪ NƯỚC TA?Gần đây có phim truyện Vải tiến Trường An nói về việc vải ...
23/05/2026

GÓC ẨM THỰC – CÓ THỰC LÀ DƯƠNG QUÝ PHI ĂN VẢI CỐNG TỪ NƯỚC TA?

Gần đây có phim truyện Vải tiến Trường An nói về việc vải từ xứ Lĩnh Nam được chạy ngựa trạm ngàn dặm để cống nộp cho vua và hoàng phi Trung Hoa. Có người phản bác rằng món vải đó không phải của nước ta, vì nhiều lẽ:

1/ Vải thiều, theo họ, là đặc sản Trung Hoa có trước, nước ta mang về trồng sau.
2/ Đường xa như thế không thể giữ cho vải khỏi hỏng.

Vậy sự thực như thế nào?

Thứ nhất, vải thiều là đặc sản nước ta có từ hàng ngàn năm. Từ thời đầu Bắc thuộc, vua Hán Hòa đế đã bắt dân Giao Chỉ (nước ta) nộp vải, như đoạn văn sau trong 後漢書 Hậu Hán thư:
「舊交趾土多珍產,明璣、翠羽、犀、象、瑇瑁、異香、美木之屬,莫不自出。又荔枝、龍眼,離暑之珍,獻於京師。」
“Xưa kia, đất Giao Chỉ sản vật phong phú. Các loại châu ngọc sáng rực, lông chim trả xanh biếc, sừng tê, ngà voi, đồi mồi, hương liệu quý, gỗ tốt — đều tự nhiên sinh ra từ nơi này. Lại có trái vải, nhãn, là của quý mùa hè, được tiến cống về kinh đô.”

Vải quý như vậy, nên người Trung Hoa đã muốn mang giống cây này về trồng tại kinh đô, nhưng khí hậu không phù hợp, như văn bản 三辅黄图 Tam phủ hoàng đồ dưới đây:
「漢武帝元鼎六年,破南越,起扶荔宮,以植所得奇草異木……荔枝自交趾移植百株,無一生者,連年猶移植不息。」
“Năm Nguyên Đỉnh thứ sáu đời Hán Vũ Đế (111 TCN), phá Nam Việt, xây dựng điện Phù Lệ để trồng các loại cỏ lạ cây quý thu được… Vải được đem từ Giao Chỉ về trồng thử trăm cây, không một cây nào sống, vậy mà năm nào cũng vẫn tiếp tục đem trồng không ngừng.”

Vậy quãng đường vận chuyển xa như vậy, có thể bảo quản được vải hay không? Thời xưa đã có cách bọc kín bằng sáp hoặc ống tre trát bùn, và nhờ thế, nhà Hán mới quyết tâm vận hành tuyến vận tải, thể hiện qua sách 東觀漢記 Đông quan Hán kỉ:
「舊南海獻龍眼、荔枝,十里一置,五里一候,奔騰阻險,死者繼路。」
“Xưa ở quận Nam Hải dâng long nhãn, vải thiều; cứ mười dặm lập một trạm, năm dặm đặt một người canh, vượt núi băng ghềnh, người chết dọc đường thì có kẻ thay thế tiếp tục.”

Vậy có thể thấy, từ thời Hán đã có cơ chế vận tải cho vải tiến Trường An. Thời nay đi ô tô vất vả như nào, thật khó tưởng tượng ông cha ta đã chịu những khổ nạn gì để phục vụ giai cấp thống trị phương Bắc.

DƯA HẤU CÓ PHẢI TỪ THỜI VUA HÙNG – GIẢI MÃ CÂU CHUYỆN MAI AN TIÊMTrong tác phẩm Lĩnh Nam chích quái thời Trần có một câu...
22/05/2026

DƯA HẤU CÓ PHẢI TỪ THỜI VUA HÙNG – GIẢI MÃ CÂU CHUYỆN MAI AN TIÊM

Trong tác phẩm Lĩnh Nam chích quái thời Trần có một câu chuyện rất nổi tiếng cho tới thời nay, là Sự tích dưa hấu.

Chuyện rằng Hùng vương có tên nô bộc ngoại quốc, mang về dạy dỗ và đặt tên y là Mai, tự An Tiêm. Mai An Tiêm được vua giao làm quan, leo lên quyền cao chức trọng, của cải dạt dào. An Tiêm nói với người khác về của vua cho rằng “của biếu là của lo, của cho là của nợ”; vua Hùng nghe được, đuổi y ra cửa biển huyện 莢山 Giáp Sơn (nay ở Thanh Hóa). An Tiêm mót hạt dưa của chim thải ra, trồng thành giống dưa ngọt, đến tai nhà vua. Dưa theo chim từ phương Tây mà tới, nên gọi 西瓜 tây qua (âm Nôm là dưa hấu).

Chuyện khá ngắn gọn, giải thích dưa hấu có từ nước ta từ thời Hùng vương, tức là cỡ 3000 năm về trước. Mỗi tội là... không đúng thực tế.

Dưa hấu gốc ở châu Phi mà ra. Tranh tường của người Ai Cập cũng vẽ quả dưa hấu, nhưng thời đó nó không có cùi mỏng ruột đỏ như ngày nay, mà ruột trắng, vị còn nhạt nữa. Qua nhiều năm chọn giống thì dưa hấu ngọt và đỏ ruột dần. Tầm thế kỉ thứ 7 thì dưa hấu xuất hiện ở Tây Trúc (Ấn Độ), rồi đi con đường tơ lụa lan tiếp qua các nước Đông Á. Người Trung Hoa tới khoảng năm 1000 mới biết ăn dưa hấu, qua câu chuyện sau trong Tân Ngũ đại sử:

始食西瓜,云契丹破回紇得此種,大如中國冬瓜而味甘。
“Lần đầu ăn tây qua (dưa hấu), nghe nói người Khiết Đan đánh bại người Hồi Hột mà có dưa này, dưa hấu to như dưa gang mà vị lại ngọt”

Thành ra việc dưa hấu có ở nước ta trước cả Tây Trúc là đều bất khả thi. Chắc là người xưa đã lấy một câu chuyện có thực dưới thời Lý rồi gán vào bối cảnh thời Hùng vương vậy. Bản thân cái tên “tây qua” cũng là do người Trung Hoa ghi lại dựa trên việc nó có xuất xứ từ phía Tây.

Nguồn gốc câu chuyện dưa hấu của Mai An Tiêm có lẽ từ Phật giáo. Câu tục ngữ thuần Việt xuất hiện trong các bản dịch: “của biếu là của lo, của cho là của nợ” thực chất đã biến tấu khỏi bản gốc. Lĩnh Nam chích quái chép nguyên văn như sau:

都是我前身之物,不曾有主恩
“Của cải đều do kiếp trước (前身 tiền thân) ta tu mà có, không phải do ơn chúa đâu”

Lý luận về tiền thân – nghiệp quả, cộng thêm Mai An Tiêm là nô bộc ngoại quốc, ăn quả dưa ngọt từ phương Tây, cho thấy An Tiêm là người mang thông điệp của Tây phương Phật giáo chứ không có gì khác.

Có lẽ 1000 năm trước đã có một nhà sư người Tây Trúc vượt biển sang nước ta để trồng dưa hấu. Rồi ông đã sáng tạo ra câu chuyện Mai An Tiêm để đưa quả dưa xanh vỏ đỏ lòng lạ kì này tới gần tâm thức người Việt thời đó hơn vậy.

THỊT KHO TÀU CỦA NƯỚC TA CÓ PHẢI NGUỒN GỐC TỪ TÀU KHÔNG?Nhiều người, bao gồm mình trước đây, cứ nghĩ tên gọi thịt kho tà...
21/05/2026

THỊT KHO TÀU CỦA NƯỚC TA CÓ PHẢI NGUỒN GỐC TỪ TÀU KHÔNG?

Nhiều người, bao gồm mình trước đây, cứ nghĩ tên gọi thịt kho tàu thì phải nguồn gốc từ nước Tàu. Tuy nhiên mới đây đọc một số bài viết thì lại được nghe khác.

Món thịt kho phổ biến trong các quán ăn Tàu là thịt kho Đông Pha, lấy từ sự tích nhà thơ Tô Đông Pha đời Tống, khi đi làm quan ở vùng Lưỡng Quảng, thấy dân không biết chế biến thịt lợn ra sao mà để được lâu, mới nghĩ ra cách buộc thịt mỡ cả bì bằng dây, nấu chậm với rượu trắng cho mục nhừ ra, tạo màu và vị bằng xì dầu.

Nghe qua là biết món đó rất khác thịt kho tàu của nước ta, vốn không dùng rượu, cũng không cho xì dầu, mà chưng nước hàng. Thịt kho vừa tới, kho kèm với cùi dừa hoặc hột vịt, đôi lúc thay bằng nạm bò hoặc cá trắm/nục/ngừ...

Có thuyết cho rằng thịt kho tàu nguồn gốc từ vùng Tây Nam Bộ, vì trong đó gọi "tàu" để chỉ nước lờ lợ, và rằng cách kho kèm cùi dừa thể hiện đặc trưng người miền Tây. Thuyết khác cho là chữ "tàu" này là "khói tàu hỏa", là món ăn ở Chợ Lớn chỗ gần đường tàu hỏa, vì thịt kho hồi xưa màu ngăm đen như ám khói, chứ không vàng cánh gián như bây giờ.

Tuy nhiên món thịt kho tàu là do dân ta tự phát minh, hay vẫn là từ cộng đồng nước ngoài thì... mình chưa được dám chắc.

Vì chục năm trước mình ăn một quán Tàu ở bên Tây (phố Richland, bang Ohio), thì quán họ có dọn ra một đĩa thịt kho rất giống thịt kho tàu của ta vậy, chỉ khác là thịt kho ngăm đen, hột vịt thì không kho mà chỉ luộc rồi bày chung đĩa thôi.

Hi vọng được các bạn độc giả giải đáp.

LỊCH SỬ BÈO HOA DÂUNói chung vấn đề "nhất nước, nhì phân" trong nông nghiệp đã là kiến thức cơ bản trong đầu chúng ta. T...
20/05/2026

LỊCH SỬ BÈO HOA DÂU

Nói chung vấn đề "nhất nước, nhì phân" trong nông nghiệp đã là kiến thức cơ bản trong đầu chúng ta. Tuy nhiên thời xưa khi chưa có phân đạm hóa học thì việc bón phân cho ruộng cũng rất nhiêu khê.

Với cơ thể người thì đạm (protein) có chứa nguyên tố ni-tơ (N nitrogen). Và với cây trồng cũng cần tổng hợp khoáng chất có thành phần ni-tơ.

Tuy nhiên khí ni-tơ trong không khí (N2) lại cực kì trơ, chỉ tự chuyển hóa thành khoáng chất ở nhiệt độ 3000 độ C. Mà điều kiện để có nhiệt độ siêu cao này chỉ xảy ra khi có sét đánh, nên mới có câu "lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên."

Cụ thể thì khi sét đánh sẽ làm khí N2 và O2 trong không khí gặp nhau và sinh ra NO, rồi NO2, N2O. Nếu các bạn thấy quen quen thì đúng rồi, N2O là cái khí ở trong bóng cười. Hỗn hợp khí này được nước mưa dội xuống đất thành các khoáng chất đạm mà cây hút lên được.

Nói chung đợi vào sét đánh thì mút mùa, nên các cụ ta cũng biết giải pháp sinh học là trồng các loại cây có khả năng cố định đạm trong không khí. Ví dụ như việc trồng xen canh cây đậu để tăng năng suất, đã được cụ Lê Quý Đôn chép trong Vân đài loại ngữ thời Lê trung hưng:

"Phép làm cho tốt ruộng thì nên trồng đậu xanh trước, thứ đến đậu nhỏ và vừng. Các thứ cây ấy trồng tháng 5-6, đến tháng 7-8 thu hoạch xong cày bừa lật úp xuống làm ruộng trồng lúa cho xuân năm sau, thì mỗi mẫu ruộng thu được 10 thạch thóc, tốt ngang bón phân tằm hay phân bắc."

Trong các giải pháp bón phân xanh thì trồng bèo hoa dâu trên ruộng lúa là giải pháp tốt nhất. Vừa sinh đạm, vừa tỏa tán che cho nước ruộng khỏi bay hơi, vừa cạnh tranh tiêu diệt cỏ dại. Tuy nhiên công nghệ tưởng chừng đơn giản này (Trung Quốc ghi nhận từ năm 540), lại được các cụ ở Quỳnh Phụ, Thái Bình giấu kín tới mức cả ngàn năm thời quân chủ cũng không cho các làng bên cạnh được biết.

Đại để thì, theo truyền thuyết, sư ông Minh Không nhà Lý một hôm gánh bèo dâu vô ý đánh rơi mấy bó. Dân Quỳnh Phụ lượm về đem trồng làm phân bón ruộng, kết quả vô cùng mỹ mãn. Tiếng lành đồn xa, dân chúng lân cận sẵn sàng đi hàng chục dặm để mua bèo dâu về bón. Thế là người Quỳnh Phụ cũng kiếm tiền từ bán bèo luôn.

Có câu "phú quý sinh lễ nghĩa", và trong trường hợp này thì phú quý còn sinh mánh khóe nữa. Người mua bèo chỉ biết bèo lúc thành hình thôi, còn trồng bèo ra sao thì không được rõ, vì dân Quỳnh Phụ giấu bí mật nghề cực kín, tới mức không truyền cho con gái. Còn con dâu học nghề thì phải thề độc trước tổ nghề bèo, nếu làm trái thì thánh vật chết.

Tình trạng trên kéo dài cả ngàn năm cho tới thời Nguyễn. Năm 1848 vua Tự Đức có lệnh đem bèo hoa dâu về kinh đô để xem xét, nhưng có lẽ do chiến tranh với Pháp đã làm việc này bị hoãn vô thời hạn. Thế là bí mật nuôi bèo hoa dâu tiếp tục bị giấu cho tới năm 1929, khi một kĩ sư nông nghiệp tên Nguyễn Công Tiễu phổ cập kiến thức này trên tạp chí Khoa học. [2]

Ngày nay thì chúng ta đã sở hữu rất nhiều tri thức và phương tiện để tăng năng suất nông nghiệp, nên những câu chuyện trên cũng chỉ còn là trà dư tửu hậu.

*******
[1] Viện Sử học, Tìm hiểu khoa học kĩ thuật trong lịch sử Việt Nam, 1979
[2] Kim Phan, L’Azolla pinnata, plante miracle des rizières du Vietnam, Biofurur th.5 (1982) 11-17

Dạo này hay lướt Tiktok thấy quảng cáo sản phẩm của Trung Quốc rất hay có câu chuyện kiểu "sản phẩm gia truyền 500 năm."...
19/05/2026

Dạo này hay lướt Tiktok thấy quảng cáo sản phẩm của Trung Quốc rất hay có câu chuyện kiểu "sản phẩm gia truyền 500 năm."

Cái nào không biết chứ nước canh 500 năm mà có ớt thì 100% bịa. Tại ớt tận năm 1591 mới được ghi chép dùng trong ẩm thực Trung Hoa tại Hàng Châu, Chiết Giang. Mà chúng ta thì chưa sống ở năm 2091.

Năm 1493 lần đầu các loại thổ sản Nam Mĩ được Columbus mang về châu Âu, trong đó có ớt.

Nhân tiện giải thích tại sao ớt lại được gọi trong tiếng Anh là chili, ấy là vì quê nhà của nó (Guiana & Brazil) gọi vậy. Tiếng Anh ngoài từ chili ra còn có một từ khác để gọi ớt, là red pepper. Tại vì trong ẩm thực cần vị cay, và cái thứ đầu tiên có vị cay mà dân Anh biết tới là... hạt tiêu (black pepper). Ớt mới về từ châu Mĩ có màu đỏ nên được dân Anh gọi là red pepper (tiêu... đỏ), xong gọi thành chili pepper, cayenne pepper...

Hành trình của ớt từ Bồ Đào Nha, qua con đường tơ lụa trên biển, sang biển Đông rồi nhập cảng Trung Quốc đương nhiên rất mất thời gian. Sớm nhất ớt tới được miền Viễn Đông khoảng năm 1570, và rồi thành khoái khẩu của toàn bộ dân châu Á.

Nước ta hẳn cũng nhận được ớt cùng thời kì với Trung Quốc. Vì các câu ca dao xưa như "gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau" thì không có ớt. Nên nếu xuyên không về thời Lê sơ về trước thì cũng không mở tiệm lẩu cay được.

Thời nay thì món canh chua cá với thành phần là dứa (thơm) và cà chua đã quá phổ biến ở ba miền Bắc Trung Nam nước ta.Tu...
18/05/2026

Thời nay thì món canh chua cá với thành phần là dứa (thơm) và cà chua đã quá phổ biến ở ba miền Bắc Trung Nam nước ta.

Tuy nhiên nếu chúng ta nhớ lại rằng dứa và cà chua là hoa quả do Columbus mang từ châu Mĩ sang, thì không hỏi tự hỏi vậy 500 năm trước thì các cụ ta nấu canh chua bằng gì?

Dĩ nhiên là các cụ ta rất sáng tạo với nhiều món tạo vị chua khác nhau cho món canh, từ măng chua, dưa chua, tới khế chua... Nhưng có một món mà ngày nay khá ít thấy, đó là dùng quả nhót để nấu canh chua. Tuy nhiên phương pháp này lại khá phổ biến vào thời Lê trung hưng, xin được trích sách Vân đài loại ngữ của cụ Lê Quý Đôn:

"Quả nhót người Tàu gọi là hồ đồi tử, lộ đô tử, còn gọi là hoàng bà nãi. Tháng giêng ra hoa sắc trắng, quả nhỏ dài như quả sơn thù du, ngoài da có phấn như sao nhỏ nhấp nhánh, chưa chín thì xanh, chỉn rồi thì đỏ. Trước ngày lập hạ, hái ăn thì vừa chua vừa chát. Lấy lá nhót sắc uống, chữa chứng tả lị rất hay. Quả nhót đem nấu canh cá, ăn rất ngon."

Ngoài lề: Các loại quả quá chua sẽ làm tổn hại dương khí, theo quan điểm Đông y. Có thể nấu kèm một quả mơ muối để bù phần dương. Ẩm thực Nhật Bản cũng hay ăn cơm kèm mơ muối.

"Trǎm nǎm dầu lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ con đò khác đưa. Cây đa cũ, bến đò xưaBộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ"Nhớ về n...
09/05/2026

"Trǎm nǎm dầu lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa.
Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ"

Nhớ về những ngôi làng Việt truyền thống, nhiều người thường hay nhớ tới những gốc cây cổ thụ ở phía đầu làng.

Hầu như làng quê truyền thống ở Bắc Bộ nào cũng có những cây đa cổ thụ thường ở đầu làng, cuối làng, giữa làng và ở bên cạnh các di tích. Cuộc sống sinh hoạt của làng diễn ra sôi động xung quanh gốc đa.

Với người dân quê, gốc đa là nơi bình đẳng nhất, không có sự phân biệt ngôi thứ.
"Không tiền ngồi gốc cây đa
Có tiền thì hãy lân la vào hàng"

Gốc đa là nơi trẻ nhỏ nô đùa, thỏa thích nhặt búp, hái lá, chơi những trò chơi dân gian. Gốc đa cũng là nơi dân làng ngồi nghỉ chân sau những giờ lao động mệt nhọc, trước khi về làng hoặc đi khỏi làng.

Gốc đa còn là nơi hẹn hò của trai gái:
"Em đang dệt vải quay tơ
Bỗng đâu có khách đưa thơ tới nhà
Hẹn giờ ra gốc cây đa
Phượng hoàng chả thấy thấy gà buồn sao"

Hình ảnh cây đa đầu làng rất quen thuộc với nhiều người. Không chỉ có vậy, cây đa làng Việt còn là biểu tượng tâm linh của con người. Trong làng, cây đa có mặt ở nhiều vị trí khác nhau nhưng hầu như nó không vắng bóng ở các di tích, đặc biệt là đình chùa.

Tục ngữ có câu:
"Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề".
Hay: "Cây thị có ma, cây đa có thần"

Cây đa xanh tốt tỏa bóng làm cho các di tích trở nên linh thiêng hơn, con người khi bước đến di tích cũng cảm thấy được thư thái hòa đồng hơn với thiên nhiên.

Phải chǎng chính sự kết hợp giữa đời sống vật chất và tâm linh này đã tạo nên biểu tượng cây đa có sức sống bền lâu trong vǎn học dân gian, vǎn thơ bác học và trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam...

Address

Hanoi

100000

Telephone

+84972420710

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when COCIN posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to COCIN:

Shortcuts

  • Want your business to be the top-listed food & beverage service?

Share