28/06/2026
LÀM VIỆC TỐT, CẢM ĐƯỢC ĐỊA TẠNG BỒ TÁT HIỂN LINH (RẤT HAY)
Lần ấy, tôi giảng kinh Địa Tạng tại Đại Nguyện Đài thuộc Địa Tạng Điện ở Gia Nghĩa vào năm Dân Quốc 51 (1962), nghe nói ngôi chùa ấy đã có lịch sử ba trăm lẻ hai năm. Thuở trước, đã có người về Hoa Lục triều bái núi Cửu Hoa ở tỉnh An Huy, cung thỉnh một bức thánh tượng Địa Tạng Bồ Tát trở về, dựng chùa thờ phụng. Mấy trăm năm hương khói không ngừng, những chuyện cảm ứng linh dị cũng rất nhiều.
Trong số đó, có một chuyện rất cảm động, người viết xin ghi lại như sau:
Chuyện xảy ra cách đây một trăm năm trước. Có một người tên là Lâm Đăng Chương, ở một nơi cách làng Gia Nghĩa mười mấy dặm đường, là người công chánh, nhưng bất hạnh bị kẻ gian vu cáo, hãm hạibị bắt lên quan, tống vào tù. Vợ ông Lâm vì thấy chồng hàm oan ngồi tù, trong nhà lại thanh bần, nghèo nàn, bôn ba khắp nơi, cậy người cứu giúp,tiêu sạch tất cả tiền bạc trong nhà, vẫn chẳng thể cứu chồng thoát ngục. Về sau, bà biết nhất định phải tốn bốn mươi lượng bạc đút lót cho quan trên thì mới có thể chuộc tội cho chồng. Trong lúc vạn phần bất đắc dĩ, bà Lâm chỉ đành cắn răng, dứt ruột đem đứa con duy nhất bán lấy bốn mươi lạng bạc để chuộc chồng. Gã cò mồi lại lấy hai ba lượng làm lệ phí môi giới, chỉ còn lại ba mươi bảy lượng, có thể chuộc chồng ra hay không, vẫn chẳng biết được!
Đồng thời, mỗi lần vào trại giam thăm chồng, đều bị bọn coi ngục chửi bới, làm khó dễ, mục đích là muốn chẹt tiền. Bọn chúng nói: “Dựa vào núi thì ăn sản vật trong núi, dựa vào nước
thì ăn sản vật trong nước”. Đúng vậy! Tới chỗ quan quyền, vào nha môn, có lý mà không có tiền sẽ chẳng thể tiến vào, xưa nay đều như vậy! Bà Lâm mỗi lần đều phải tươi cười, nói ngọt, lại còn phải biếu xén đôi chút; nếu không, đừng mơ vào được. “Diêm vương dễ gặp, tiểu quỷ khó chơi”. Lần này, đến nộp bạc chuộc chồng, đương nhiên chẳng phải là ngoại lệ. Khi đó, nhà tù ở ngay đường lớn, cũng là ở ngay nơi đường Ngô Phượng hiện thời. Bà mua một ít cau gần đó, để làm chút quà mọn biếu xén lũ canh tù. Nào ngờ, lúc móc tiền mua cau, khi gói cau lại, đánh rơi ba mươi bảy lạng bạc chuộc chồng mà chính mình chẳng biết. Tới khi nộp bạc cho quan, phát hiện túi bạc đã mất, thò tay lục lọi cả buổi chẳng lấy ra được, sợ tới mức mặt không còn chút máu, bối rối đến nỗi
khóc không ra tiếng!
Bán đi đứa con yêu quý độc nhất, những tưởng có thể chuộc chồng về, nay đánh mất bạc, chồng chẳng thể ra khỏi tù được, chính mình cũng chỉ có con đường chết! Bà ta còn chưa chết, vẫn chưa nản lòng, lại men theo đường tìm kiếm, vạn nhất chẳng tìm được bạc,
chỉ còn con đường tự sát!
Phố vải trong thành Gia Nghĩa nay là đường Quang Minh, có một cái miếu thờ Thổ Địa Công. Có một người ăn mày tên là Từ Lương Tứsống nơi đó. Ông ta không chỉ bần hàn, chẳng có nhà cửa, mà còn bị tàn phế từ thuở lọt lòng. Đôi chân tê liệt, chẳng thể đi lại, phải dùng mông lết trên mặt đất để di chuyển. Ban ngày xin ăn sống qua ngày trên phố, buổi tối bèn lấy miếu Thổ Địa làm nhà. Hôm đó, khi ông ta đang xin ăn trên đường phố, từ xa thấy một nữ nhân đang mua cau ở sạp trầu cau, vội vã bỏ đi, đánh rơi túi bạc xuống đất. Ông ta lết tới trước, nhặt lấy túi bạc, vốn muốn đuổi theo đưa trả cho người ta. Hiềm rằng chính mình chẳng thể đi được, gọi ầm lên, bà ta cũng chẳng nghe! Ông ta mởtúi bạc ra đếm, có ba mươi bảy lượng bạc. Người ăn mày trông thấy bạc trắng xóa như thế, hoảng hồn, mà cũng chẳng nẩy sanh cái tâm thấy tiền bèn nổi máu tham; ngược lại, cảm thấy người nữ ấy dáng vẻ vội vàng, chắc chắn là có chuyện gì lớn lao, chẳng thể tùy tiện lấy bạc đi. Vạn nhất bà ta trở về tìm chẳng thấy bạc, có thể sẽ tự sát, ta phải ở đây chờ bà ta trở lại.
Cứ một mực đợi, đợi rất lâu, mới thấy một phụ nữ mặt đầy vẻ lo lắng, chạy tới dòm đông ngó tây trên đường, dường như đang kiếm vật
chi đó. Ông ta biết là nguời mất của đang tìm kiếm, bèn sà đến, dùng tay kéo chéo áo bà ta. Bà ta tưởng người ăn mày xin tiền, bực bội, lớn tiếng quát: “Ta đang vội muốn chết, còn chỗ nào có tiền cho ngươi! Hãy mau tránh ra để ta còn tìm đồ bị mất”. Lòng tốt của Từ Lương Tứ bị coi thường, ông ta vẫn nhẹ giọng hỏi: “Bà ơi! Làm rơi gì thế? Hốt hoảng như vậy, hãy nói xem, không chừng tôi biết”. Câu ấy gọi tỉnh bà ta từ tay tử thần quay về. Bà ta kinh hỷ nói: “Thật à?” Ông ta đáp: “Đương nhiên là thật! Tôi nhặt được món đồ. Nếu bà nói đúng, tôi sẽ giao cho bà”. Bà ta vội vàng nói: “Tôi đánh
mất một cái bao vải, trong đó có ba mươi bảy lạng bạc. Đó là tiền tôi bán con. Chồng tôi bị người ta vu cáo hãm hại, phải ngồi tù. Cần phải có bốn mươi lượng bạc thì mới có thể chuộc tội. Bất đắc dĩ bán con chuộc chồng, gã cò mồi lấy ba lượng, tôi còn lo lắng chẳng đủ bạc, nào ngờđánh mất ở đây. Như vậy thì chồng tôi chẳng thể ra khỏi tù, con tôi cũng bán rồi! Người lẫn của đều chẳng còn, tôi chỉ còn đường tự sát!” Dứt lời, khóc rống không ngừng.
Lúc ấy, có mấy người hảo tâm tìm đến hỏi nọ, hỏi kia, Từ Lương Tứ chẳng nghi ngờ mảy may, nói: “Bà đừng nên khổ sở, tôi nhặt được bạc do bà đánh rơi khi mua cau. Do tôi không đi được, đuổi theo không kịp, gọi thì bà cũng chẳng nghe thấy, cho nên ở đây chờ bà trở lại. Hiện
thời, bạc ở trong này, bà đếm thử xem”. Người ăn mày giao bạc ra, lặng lẽ bỏ đi. Ba Lâm tìm lại số bạc đã mất, vui mừng quá đỗi, đâm ra quên khuấy người ăn mày, ngay cả tên họ người ta cũng quên hỏi, vội vàng đến nha môn nộp tiền. Viên quan mới biết là tiền bán con, người ăn mày nghèo khổ lại thấy của mà chẳng mê muội, chúng ta làm sao có thể mê muội lương tâm đòi tiền bán con của người ta? Vì thế, thiên lương phát hiện, cảm khái thả chồng bà ta ra, chẳng cần tiền chuộc nữa! Do nghĩa
cử của người ăn mày, nên mới khiến cho kẻ làm quan bị cảm động! Sau khi Lâm Đăng Chương ra khỏi tù, biết đứa con đã bị bán đi. Trừ ba
lượng bạc cho gã cò mồi, còn phải mời khách, biếu quà, tiêu tốn không ít, lại còn tìm người ăn mày, nhưng cũng chẳng biết ở đâu. Về sau, ông ta bèn mở một tiệm bán ngũ kimở phố bán vải để kiếm sống.
Lại nói, Từ Lương Tứ trở về miếu Thổ Địa ngủ một đêm, hôm sau là tiết Thanh Minh, bèn mò ra Đông Quách Phiền Gian, tức là chỗ nghĩa
địa công cộng ở ngoài thành để xin bánh hồng quy từ những người đến tế mộ tổ tiên. Do đường xa mắc mưa, về trễ, lết theo đường chậm chạp, khi tới cửa thành, cửa thành đã đóng từ lâu (khi đó Gia Nghĩa có bốn cửa thành). Bất đắc dĩ, phải đến miếu Địa Tạng Bồ Tát gần đó ở ngoài thành để tá túc (hiện thời là địa chỉ số 81 đường Dân Quyền), khẩn cầu ông từgiữ miếu từ bi cho nghỉ nhờ một đêm trước đại điện thờ Phật. Ông từ coi miếu nhận biết người ăn mày họ Từ, cũng cho nghỉ nhờ. Nhưng ông từcoi miếu ngủ đến nửa đêm, bỗng nghe trong đại điện có tiếng kêu gào thảm thiết như quỷ tru, rất giống như có người đang giết ông Từ, kêu khổ không ngớt. Ông từ coi miếu nghĩ họ Từ nổi bệnh thần kinh, quở mắng hai lần, vẫn không im, bị ông ta ồn ào cả đêm không yên giấc, tức giận khôn cùng!
Sáng sớm hôm sau thức dậy, ông từ tính đuổi người ăn mày họ Từ đi, thấy hắn đang ngủ say, bèn lôi hắn từ trong mộng tỉnh dậy, chửi: “Ngươi vì sao đêm không chịu ngủ, mà kêu gào như quỷ tru?” Người ăn mày họ Từ sau khi giật mình tỉnh giấc bèn nhảy dựng lên, đứng phắt dậy, chính mình cũng chẳng biết, bước tới trước mặt ông từcoi miếu. Tới lúc đó, đâm ra ông từ coi miếu hoảng sợ tới mức lùi lại mấy bước, sững sờ: “Sao gã bại liệt này ngủ qua một đêm lại có thể đi đứng tự nhiên?” Hỏi ra, nguyên lai, Từ Lương Tứ ban đêm ngủ trước thánh tượng của Địa Tạng Bồ Tát, trong mộng thấy Bồ Tát sai hai tiểu quỷ, một cao, một lùn. Một quỷ thì ôm chặt lấy phần thân trên của ông ta, quỷ kia thì nắm hai cái chân liệt mà kéo mạnh, đau đến nỗi ông ta kêu thảm thiết không ngừng. Nhưng hai tiểu quỷ ấy mặc kệ ông ta gào thảm thiết cỡ nào, vẫn không ngừng tăng thêm sức mạnh kéo thẳng hai chân tàn phế của ông ta, đau đến nỗi ông ta ngất lịm đi. Sau đấy, chẳng biết sao lại ngủ mất. “Hiện thời, tôi cũng chẳng biết đôi chân tàn tật này nghiễm nhiên giống như chân mọi người bình thường”. Do đó, còn sung sướng hơn lúc nhặt được bạc hôm qua. Ông từ trông miếu thấy kỳ tích xuất hiện như vậy, đương nhiên chẳng thể mắng hắn nữa, lại còn vuisướng theo hắn. Bản thân, hắn cũng biết là Địa Tạng Bồ Tát hiển linh, chữa trị tàn tật cho mình, đảnh lễ trước tượng Địa Tạng Bồ Tát, cảm kích tuôn lệ, mọp thân lễ bái, lạy côm cốp mấy lần!
Người ăn mày họ Từ sau khi hết tàn tật, rất nhiều người chúc mừng ông ta. Nhưng ông ta do vậy, dấy lên phiền não: Lúc tàn tật thì
còn có thể ăn xin sống qua ngày. Nay đã hết tàn tật rồi, không thể đi ăn xin trên phố để sống qua ngày, nhất định phải tự lực cánh sanh; nhưng ông ta là một gã ăn mày nghèo túng, ngoài ăn xin ra, làm thế nào để giải quyết vấn đề cơm áo, chỗ ở đây? Buôn bán thì chẳng có tiền vốn. Rốt cuộc vẫn là từ không có cách nào, nghĩ ra một cách: Dùng mấy đồng bên mình mua hai cái thùng nước, gánh nước thuê để kiếm sống. Thời ấy,chưa có nước máy, các gia đình giàu có đều kêu người đổi nước, [tức là
trả công cho người ấy] hằng ngày gánh nước đến. Từ Lương Tứ từ ănmày biến thành người đổi nước.
Lâm Đăng Chương sau khi ra khỏi tù, biết chuyện vợ làm rơi bạc, người ăn mày nhặt được chẳng giữ rịt làm của riêng, cũng từng tìm kiếm vị ân nhân cứu mạng ấy, nhưng ngay cả tên họ cũng chẳng biết, chẳng thể tìm kiếm. Lúc đó, họ sống ở vùng quê rất xa, đương nhiên chẳng biết chỗ ở của người ăn mày. Vì thế, đối với chuyện chẳng biết tên họ của ânnhân, chẳng có cách nào báo đáp, cứ canh cánh trong lòng. Hai ba năm sau, việc buôn bán nơi tiệm ngũ kim của nhà họ Lâm càng làm càng phát
đạt, cái tâm tưởng niệm ân nhân cũng càng ngày càng tăng. Có một hôm, nhà họ Lâm kêu Từ Lương Tứ đưa nước đến. Lâm Đăng Chương chưahề gặp mặt họ Từ Lương Tứ, ân nhân ở ngay trước mắt vẫn không nhận biết. Khi đó, nữ quyến không ra khỏi cửa cho mấy. Hễ có nam nhân đến, nữ nhân lẩn tránh, không ra khỏi cửa phòng. Vì thế, mấy năm trôi qua, vẫn tìm không thấy vị ân nhân ăn mày đó. Vừa lúc Từ Lương Tứ đưa nước đến nhà bếp, trong lúc vô tình, bà Lâm trông thấy, rất đỗi kinh ngạc: “Diện mạo người này giống ân nhân như đúc, có phải là ông ta hay không? Chẳng phải! Tuyệt đối chẳng phải! Ông ta là người bị liệt, chẳng thể đi lại. Nhưng vì sao người này giống ông ta đến thế?” Bà Lâm tự hỏi, tự đáp, hoài nghi chẳng dám quyết đoán liên tiếp mấy ngày. Bà đem chuyện này kể với chồng: “Cái người gánh nước ấy có diện mạo giống hệt vị ân nhân, cùng một khuôn mặt, chẳng biết vì sao chẳng phải là người bị liệt, mà đi gánh nước! Sáng mai, ông mời ông ta vào hỏi han cặn kẽ, xem thử là chuyện như thế nào!”
Ngày hôm sau, Từ Lương Tứ vẫn đưa nước đến. Lâm Đăng Chương đặc biệt mời ông ta ngồi xuống dùng trà. Sau đó, hỏi han tên họ,
hỏi trước khi gánh nước thì làm chuyện gì, trong nhà còn có ai. Từ Lương Tứ cũng chẳng giấu giếm gì, nói thật: “Nói ra rất xấu hổ! Ba năm trước tôi không thể gánh nước, thậm chí còn chẳng thể đi lại. Nhiều năm bị tê liệt, lê lết trên mặt đất. Khi đó, chỉ lần theo từng nhà xin ăn. Sau đấy, vào tiết Thanh Minh năm đó, đêm ngủ tại miếu Địa Tạng Bồ Tát, mộng thấy Bồ Tát sai hai tiểu quỷ chữa trị thương tật cho tôi. Từ đấy vềsau hết tàn tật, bèn lấy chuyện gánh nước để tự lập kiếm sống”. Lúc đó, bà Lâm từ trong phòng đi ra, nắm tay chồng, song song quỳ trước mặt họTừ, thưa: “Ân nhân! Hãy nhận của vợ chồng chúng tôi một lạy”. Trước hết, họ không nói rõ mọi chuyện, cứ song song lạy xuống, khiến Từ Lương Tứ sợ hết hồn, hai tay vẫy liên tục, không ngừng lùi lại. Sau khi
vợ chồng ông Lâm nói rõ mọi chuyện, mới biết chuyện xảy ra vào tiết Thanh Minh ba năm trước. Lúc ấy, cũng biết do làm chuyện tốt nên cảm động Địa Tạng Bồ Tát hiển linh trị lành tàn tật. Đúng là vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ. Họ ngồi lại chuyện trò một hồi, ông Từ tính cáo lui, nhưng vợ chồng họ Lâm bất luận như thế nào cũng không chịu để cho ông ta đi.
Vợ chồng họ Lâm rất thành khẩn thưa với Từ Lương Tứ: “Lúc đó, ân công đã cứu vợ chồng chúng tôi. Đương nhiên là Ngài chẳng nghĩ thi
ân cầu báo, nhưng chúng tôi là người cảm nhận ân huệ, chẳng thể nghĩ như vậy. Ngài là người chẳng có nhà cửa, chẳng có vợ con, trong tiệm chúng tôi cần người giúp. Ngài hãy ở lại đây, coi như người nhà của chính mình vậy!” Từ đó về sau, Từ Lương Tứ cũng chẳng đổi nước nữa, sống trong tiệm ngũ kim của nhà họ Lâm, giúp họ buôn bán. Chẳng đầy mấy năm, họ Lâm không chỉ buôn bán thịnh vượng, mà còn tậu chẳng ít đất đai, ruộng nương, cũng từng mấy lần muốn cưới vợ cho Từ Lương
Tứ, nhưng ông ta đều cự tuyệt, chẳng đồng ý.
Lâm tiên sinh biết ông ta là người bộc trực, nói một, chẳng nói hai, chỉ đành thuận theo tự nhiên. Mấy năm sau, Lâm Đăng Chương nhận được thư của chú, hối ông ta trở về quê nhà ở Quảng Đông để kế thừa tổ nghiệp. Hai vợ chồng quyết định trở về Quảng Đông kế thừa tổ nghiệp, tài sản nơi này do Từ Lương Tứ toàn quyền quản lý, cũng không dám nói rõ là tặng cho ông ta. Chỉ nói là xin ông ta quản lý thay, muốn làm cho ông ta tin tưởng là không lâu sau họ sẽ trở về. Nếu không, ông Từ lại chẳng chịu tiếp quản. Từ Lương Tứ vẫn mong đợi vợ chồng họ Lâm quay lại, nhưng họ vẫn một mực chẳng trở về.
Mấy năm sau, họ gởi thơ, tỏ rõ tâm ý: Họ phải kế thừa tổ nghiệp, sẽ chẳng trở lại, dâng tặng cho ông Từ toàn bộ hết thảy tài sản, khuyên ông nên sớm có ngày cưới vợ, lập gia đình. Nhưng Từ Lương Tứ vẫn không lấy vợ, lại còn suốt đời chẳng cưới hỏi, vẫn tự cho mình là người quản lý tài sản cho Lâm Đăng Chương. Về sau, Từ Lương Tứ di chúc đem toàn bộ phòng ốc tại phường vải thí cho miếu Thổ Địa
để cảm tạ ân huệ nhiều năm nương nhờ khi cùng khổ. Lúc còn sống, mỗi dịp mùng Một, ngày Rằm, ông ta đều ra miếu Địa Tạng ngoài thành để lễ kính Địa Tạng Bồ Tát, cảm tạ ân Bồ Tát trị tàn tật. Nghe nói, sau khi ông ta chết đi, còn có sáu mươi cuộc đất thuộc hạng nhất do chánh quyền sở tại tiếp nhận.
Hai họ Từ và Lâm, một đằng là thi ân chẳng cầu báo, một đằng nhất định có ơn phải báo đáp, đều đáng cho người đời sau noi gương và sùng kính. Khó trách những người thuộc thế hệ trước ở Gia Nghĩa hễ nhắc tới chuyện này đều là “bia miệng” bàn luận sôi nổi. Nghe nói các
nghị viên cấp tỉnh ở Gia Nghĩa như Hà Mậu Thủ v.v… Xuân Thu hai quý đều đến bái tế trước linh vị của họ Từ và họ Lâm, kính ngưỡng thái độ làm người của họ.
Người viết từng vì chuyện này mà cùng cư sĩ Trần Tư Khánh đích thân đến y viện tư nhân tại đường Quang Minh xem bài vị của hai họ Từ và Lâm, còn có tượng của Thổ Địa Công thời đó, lại còn viếng địa điểm miếu Thổ Địa nơi người ăn mày họ Từ nương nhờ thuở đó. Hàng xóm hai bên đều biết người viết đặc biệt tới hỏi han
chuyện này, đều vui vẻ tự động kể về quá khứ của hai ông Từ và Lâm. Chuyện này cho thấy ngoài sự linh dị của Địa Tạng Bồ Tát, lại còn xiển dương sự thiện lương nơi nhân tánh, đều có hữu ích cho lòng người trong xã hội. Vì thế, tôi vui vẻ ghi lại.
Trích Kinh Địa Tạng Thập Luân Giảng - Hoà Thượng Mộng Tham
Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát
Cre: An Sĩ Toàn Thư