25/10/2025
Tuyết Diêm- Làng muối quê tôi.
( Mình đăng lại bài viết của tác giả Nguyễn Hải Phú. Tuổi đời ông đã vào hàng U90. Tuyết Diêm thôn, là nơi mà tác giả đã sống, đã trải qua từ ấu thơ tới ngày thành niên đến khi xa quê, địa điểm có thể còn đây nhưng những nhân vật, con người trong ký ức của tác giả có lẽ đã thành người thiên cổ. Chốn quê nhà này, mà ngày nay ai có dịp ghé lại vẫn còn bao nỗi luyến lưu hoài niệm. )
Kỳ 2: Đồng muối Tuyết Diêm và nghề làm muối của diêm dân:
Sau Tết Nguyên đán diêm dân bắt đầu làm. Trong một khuôn viên đất ruộng có bờ bao chung quanh, tùy theo diện tích lớn, nhỏ, người ta chia ra thành dây ruộng muối, nhỏ nhất cũng phải được 7 đám, lớn nhất 24 đám, đa phần theo kích thước mỗi đám có diện tích hình chữ nhật, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài (8mx12m), độ dài này vừa với hai cây tầm vông dùng để làm cán tran cào muối - khi cào người đứng trên bờ ruộng đưa lưỡi tran ra nửa đám ruộng, phía bờ bên kia cũng vậy, chứ không bước xuống ruộng, chỉ khi đẩy đất bùn mới có một chân bước xuống một chân trên bờ cho có lực mạnh - tính từ trong ra gồm: ruộng ăn, ruộng chịu, chứa mặn, chứa lạt, ngoài cùng là mương dẫn nước từ sông vào. Ruộng ăn, ruộng chịu liền kế nhau, ruộng chịu trữ nước cho ruộng ăn (ruộng ăn là đám ruộng sẽ thu hoạch muối), khi ruộng ăn khô nước thì đưa từ ruộng chịu sang bồi thêm để muối kết dày hơn.
Trước tiên người ta cày hoặc cuốc cả giây ruộng (gồm ruộng ăn và ruộng chịu) phơi đất mấy ngày rồi bừa nhuyển san thật phẳng, chia đều ra mỗi đám có diện tích như nhau. Bờ đi cho mỗi đám chỉ rộng khoảng gan rưởi tay thôi. Phải nện cho bờ cứng để khi gánh muối nặng chạy trên đó bờ không vỡ ảnh hưởng mặt ruộng. Cho nước vào xăm xắp rồi dùng bàn nện, đằm đất mặt ruộng cho phẳng và khô dần, cứng, gọi là làm da ruộng, thời gian mất cả nửa tháng mới xong công đoạn này. Sau đó, bắt đầu sản xuất muối.
+ Ruộng muối Tuyết Diêm.
Làm da ruộng phải thật kỹ để không bị lổ mội (lỗ mọi) khiến nước từ lòng đất trào lên, bờ phải nện kỹ không có lổ rò nước từ ruộng chịu rịn sang làm thau muối. Các đám ruộng được lấy ống tre làm lổ lù để dẫn nước. Mở bộng lấy nước từ ngoài sông chảy vô mương, vô chứa lạc, ở đây nước được phơi nắng mấy ngày rồi cho vô chứa mặn. Nước lại phơi nắng tiếp nên độ mặn đã cao, cá chết chứ không còn sống được như nước ngoài sông mới đưa vô mương, chứa lạc. Nước từ chứa mặn sau mấy ngày phơi nắng sẽ cho vô ruộng chịu phơi nắng thêm mấy ngày nữa, lúc này nước đã gần kết thành muối, khi ruộng ăn hụt nước sẽ mở lù cho nước từ ruộng chịu chảy sang bổ sung để muối dày thêm.
Khoảng vài ba lần bổ sung nước như vậy muối sẽ nhiều, khoảng 5 - 7 ngày là thu hoạch, bằng cách dùng cái tran (1) có cán dài bằng cây tầm vông kéo muối từ giữa ruộng vào gần bờ, gom thành đống, người khác xúc vào thúng, một người khác nữa đến gánh chạy lên gò đổ thành đống to theo hình nón. Người ta có sẵn ba-rem tính theo chiều cao nhân vòng tròn đáy sẽ ra khối lượng tấn muối. Thời xưa Pháp quản lý muối rất chặt, sau khi đo xong họ còn in những con dấu dày trên đống muối. Khi bán thuế quan kiểm tra, nếu mất dấu sẽ bị phạt nặng. Người chủ ruộng muối thường tranh thủ người cai coi khi thu hoạch bằng cách đưa thước đo chu vi đáy cao lên để có lợi cho mình - số muối nằm bên dưới không đo sẽ "lọt sổ", nạp thuế ít đi. Đó là chuyện ngày xưa.
+ Thu hoạch muối ở Tuyết Diêm.
Sau khi thu hoạch, người ta cho nước từ ruộng chịu sang ruộng ăn tiếp tục sản xuất lần hai (lứa hai). Mực nước cao chừng 2-3 lóng tay. Sau khi thu hoạch lứa hai, mặt ruộng ăn không còn sạch nữa, người ta phải đẩy bùn cho sạch mặt ruộng, phơi nắng một buổi cho da ruộng se khô rồi cho nước từ ruộng chịu vào ruộng ăn. Những lao động từ đẩy ruộng, cào muối, hốt, gánh đều phải thuê mướn (hoặc vần đổi công) chứ không gia đình nào đủ người làm hết các khâu ấy. Người theo dõi hàng ngày trong khi sản xuất muối, gọi là ông bầu. Công việc tương đối nhẹ, lo chuyện lấy nước từ sông vào chứa theo công đoạn kể trên và châm thêm nước từ ruộng chịu qua ruộng ăn. Khi muối bắt đầu kết hạt từ mặt đất, sẽ có một số hạt nhẹ nổi lên mặt nước, gọi là muối bọt, phải cào chúng vào cho chìm sát bờ tránh để rơi chìm xuống mặt ruộng làm giảm sản lượng muối. Việc này nhẹ nhàng, người nhỏ tuổi cũng làm được.
Sản xuất theo phương pháp cho nước bốc hơi dần dưới sức nóng của mặt trời, nên mùa vụ chỉ làm được khi trời nắng, nắng càng gắt muối càng nhiều, được mùa. Ngược lại, trời hay mưa sản lượng muối giảm. Cách làm thủ công như vậy nên người lao động khá vất vả. (Cào, đẩy là công việc nặng chỉ đàn ông, thanh niên mới đủ sức làm, các khâu khác phụ nữ làm được). Gần đây, HTX tổ chức sản xuất theo cách trải bạt mặt ruộng không lấy nước sông mà khoan giếng lấy nước trong lòng đất để có hạt muối thật tinh khiết nhưng giá thành cao, cách sản xuất này chưa thể thực hiện toàn bộ diện tích.
Trung ương đã đầu tư 185 tỷ đồng xây bờ kè chạy ven đầm Cù Mông 11 km, trong đó có đoạn trên địa phận Tuyết Diêm. Bờ kè kiên cố bằng xi-măng rộng lớn, xe vận tải nhỏ vận chuyển muối rất tiện. Cũng có thêm tác dụng đồng muối Tuyết Diêm khi vào mùa mưa không còn cảnh nước lụt làm lở bờ bao như trước nữa, đỡ tốn kém khi mỗi năm phải đắp lại lổ trổ bị lở và gia cố bờ do mưa bão gây sạt lở.
Chính quyền tỉnh Phú Yên, thị xã Sông Cầu rất quan tâm tìm cách hỗ trợ diêm dân, xin cấp thương hiệu cho muối Tuyết Diêm, kêu gọi các nhà đầu tư khai thác chế biến muối để nâng đời sống người lao động. Có sự khác nhau về chất lượng muối giữa các cánh đồng và thửa ruộng. Ruộng ở gần Đầm Cù Mông muối tốt hơn ruộng ở xa nằm sâu trong làng, nước từ đầm vào sông hàng mấy cây số mới tới ruộng. Ở đây, muối không trắng bằng muối ruộng gần đầm. Giá bán muối cũng chênh lệch do chất lượng giữa hai vùng ấy.
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, tôi được 5 tuổi nhưng vẫn còn nhớ ngoài căn nhà nóc bằng thật to người dân gọi là Tòa bằng thực dân Pháp xây cất dùng cho quan chức thuế quan ở quản lý làng muối, còn mấy nhà xây bằng tường gạch dày lợp ngói để cho lính bảo vệ quan chức và canh giữ đồng muối nữa. Thực hiện tiêu thổ kháng chiến, tòa bằng và mấy tòa lính ở đồng Chùa trên núi gần nhà ông Hược, ở bên Tuyết Diêm Bắc, bị ta phá bỏ chỉ giữ lại tòa lính gần tòa bằng thuộc Tuyết Diêm Nam làm trường học. Như vậy, cho thấy người Pháp coi muối rất quan trọng về kinh tế.
+ Dừa là cây trồng quanh nhà.
Sản phẩm địa phương ngoài muối, một ít ruộng lúa còn có thêm dừa là loại cây trồng phổ biến trên vùng đất Sông Cầu, trong đó có Tuyết Diêm, nhà nào có đất là có trồng dừa. Dừa là cây cho con người sử dụng gần như tất cả, không bỏ một cái gì. Trái già nấu dầu, trái vừa gọi là dừa nạo dùng uống nước, lá lợp nhà, cây dừa làm bộng cho việc lấy nước hoặc làm nhà, tàu dừa làm củi nấu, xơ dừa người ta đánh lại làm dây, sọ dừa làm than hoạt tính...
Thật hiếm có loại cây mang lợi cho con người như thế.
Thời Pháp thuộc thôn Tuyết Diêm nghèo, chỉ vài ngôi nhà lợp ngói, còn toàn nhà lá vách đất. Tuyết Diêm Nam chỉ có cái giếng ở nhà bà Vô là nước trong ngọt, mội nhiều nên cả xóm đến gánh về dùng. Nhà ông Kính có giếng nước cũng tốt nhưng sát núi, quá sâu, ít nước nên chỉ dùng cho gia đình, không cho người khác đến lấy nước. Phía dưới có giếng nước nhà ông Lễ Nhơn cũng khá, dùng cho xóm nhà này, nhưng gần ruộng mùa mưa nước không còn trong như mùa nắng, phía trên có giếng nhà nội tôi nước gần như nước giếng nhà bà Vô, mấy nhà ở gần như ông Thiện, bá Xốc đến múc gánh về, nhà ông Thọ Dy cũng có giếng nước như nước giếng nhà nội tôi. Giữa xóm có giếng nhà ông Ngãi, nhưng nước không được ngọt vì gần ruộng mặn. Bên đồng Đồng Chùa nhà ông Hược sát núi có giếng nước cũng trong ngọt.
+ Đình làng:
Như bao làng quê nước Việt, Tuyết Diêm cũng có đình làng ở Tuyết Diêm Nam quay mặt ra sông.Thời chiến tranh bị tà phá, nay xây lại gọn nhỏ hơn xưa. Tiết Diêm bắc có một miếu nhỏ. Ngày xưa, Ql1A cũng có một cái miếu nhỏ tại triền núi nằm bên vệ đường, dưới cây báng một, nay thấy không còn.
+ Chợ:
Cả xã chỉ có một chợ Gò Duối (Chợ Xuân Lộc). Ngày nhóm họp chợ phiên (mồng 6,16,26 Âm lịch, ở Sông cầu thì mồng 03, 08, 13, 18, 23, 28 ) mới có nhiều hàng hóa. Ngày nay, chợ phải dời sang địa điểm mới để đáp ứng phát triển của địa phương. Tuyết Diêm ngày xưa hoàn toàn không có chợ nhỏ, quán cũng chỉ một vài cái lèo tèo như quán cô Bảy Nghiệp bán vài món kẹo bánh khô thôi. Nay đã có chợ bán hàng ăn trong xóm.
Dân đông nên xã Xuân Lộc cũ phải chia thành ba xã: Xuân Lộc, Xuân Bình, Xuân Hải. Một số thôn cũng chia ra thành hai như Thọ Lộc trên, Thọ Lộc dưới, Diêm Trường cũng chia hai. Xuân Hải ngày xưa là 2 thôn Túy Phong 7 và 8, nay là xã. Chỉ có thôn Tuyết Diêm dù dân số tăng nhiều vẫn còn giữ nguyên. Rồi mai kia cũng có thể sẽ lại chia thành hai thôn để hợp với dân số, quản lý địa bàn?
Thời xưa, Tuyết Diêm nghèo, thiếu thốn đủ điều nên con người chậm phát triển, thua xa so với Quy Nhơn, Tuy Hòa là thành thị. Ngày nay đời sống được cải thiện, con người Tuyết Diêm tiến bộ nhiều mặt, không còn thua sút các nơi như xưa nữa. Người lao động sản xuất muối cũng mua sắm những vật dụng che tránh ánh nắng gay gắt, bảo vệ sắc diện khi làm việc.
Ai cũng hiểu hạt muối có ích, con người cần có nó. Nhưng nhiều khi ta không chú ý vì ít khi bị thiếu muối. Thiếu gạo con người sẽ chết, nhưng thiếu muối có thể sống được nên không thấy hết quan trọng của hạt muối.
Từ khi còn thơ tôi đã thấy nội tôi coi gạo và muối có “vị trí” bằng nhau. Đó là, mỗi khi ông cúng rằm, cúng đất đai… đều có hai dĩa gạo và muối. Cúng xong, trước khi tắt đèn việc không thể quên là hốt muối và gạo trong hai đĩa ra sân vãi tung lên trời, theo bốn hướng. Những hạt gạo, hạt muối rơi xuống đất có số lượng như nhau, nhưng chỉ còn lại những hạt muối, những hạt gạo đã được mấy chú gà mổ hết.
Tôi có đọc mẩu chuyện sau khi Bác Hồ dự Hội nghị Phong-ten-nơ-blô từ nước Pháp trở về năm 1946, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến với thực dân Pháp, Bác yêu cầu ông Nguyễn Lương Bằng đi Nam Định tổ chức đưa lên Việt Bắc một lượng muối đủ cho cán bộ, bộ đội và nhân dân dùng trong khoảng mười năm. Số muối đưa lên chiến khu hơn 80 tấn! Bác Hồ là người tính xa, Người đã ở Việt Bắc từ năm 1941 đến ngày khởi nghĩa cướp chính quyền về Hà Nội 1945, Bác hiểu giá trị hạt muối rất cần cho con người, thiếu nó cán bộ, bộ đội, nhân dân sẽ giảm sức khỏe, ảnh hưởng năng suất làm việc, chiến đấu không ít.
Chúng ta cũng biết, những năm kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, cán bộ bộ đội ở Tây Nguyên có khi phải đốt rể tranh thay muối. Người dân tộc ở Tây Nguyên quý muối hơn những thứ khác.
Khi bộ đội cho và nói muối của Bác Hồ là họ vô cùng biết ơn Bác.
Tuyết Diêm thời chống Mỹ, hai năm giải phóng (1965-1966) đã cung cấp hàng trăm tấn muối lên chiến khu. Vì vậy nên khi lính Đại Hàn chiếm lại, bộ đội và nhân dân ở vùng căn cứ không bị thiếu muối.
+ Muối mặn.
Nhưng nhờ có muối nêm vào những món nấu mới có vị ngọt. Một nồi canh mà không có muối nêm thì không đậm đà bằng có nêm muối (nước mắm cũng từ muối). Một nồi khoai mà không bỏ muối ăn nó lạt lẽo, không ngon bằng có nêm chút muối. Nấu nồi chè mà thiếu nêm muối ắt không ngọt bằng có nêm muối...
Con người có nhiều gia vị khi nấu nướng, nhưng không thể thiếu muối. Hạt muối nhỏ nhoi, coi có vẻ không quan trọng khi ta có đủ đầy. Nhưng khi không có nó người ta mới hiểu hết tác dụng của hạt muối.
Vị mặn của hạt muối còn có tác dụng gắn kết con người với nhau:
"Tay bưng dĩa muối chấm gừng
Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau!"
Tôi chưa nghe ai nói chia nửa hạt gạo bao giờ, nhưng muối thì đã nghe. Thời chống Mỹ, ở một lớp học do Trung ương Cục mở giữa rừng già Dương Minh Châu (Tây Ninh) có mấy người bạn người miền Tây cùng học, các anh thường hát bài hát chứa chan tình đồng chí của anh bộ đội: "Hạt muối cắn hai, anh giải phóng quân ơi! Anh giải phóng quân mà không trọn bát cơm lưng"... Tình người cao cả đến hạt muối cũng chia hai như chia gian nan cực khổ của người cách mạng... thật đẹp, làm cho cuộc sống con người trong chiến khu càng thêm gắn bó với nhau của nghĩa tình đồng chí. ..."Điếu thuốc tàn cùng chia sớt nhau, nằm kế bên thân người bạn ta, cùng chia sẻ khi cùng đói lòng, từng vắt cơm, từng miếng khô..." (Trích bài Đồng chí thơ Chính Hữu).
Muối còn là nguyên liệu sản xuất cho một số ngành công nghiệp nữa. Ở nước ta chỉ ở Cà Ná ruộng tráng nền xi măng mới đạt chất lượng cho ngành công nghiệp (2).
+ Nhưng, hạt muối có nhiều khi cũng đắng chát.
Người Diêm dân đúng như câu nói "một nắng hai sương", đa phần công việc phải là lúc trời nắng chang chang, bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Cái nghề nhọc nhằn là vậy nhưng cứ phải chịu cảnh: Trời nhiều nắng sản xuất được mùa, thì giá muối sẽ rẻ. Năm nào trời mưa, sản lượng ít thì giá có khi được cao. Ngày xưa, chỉ có những người nhiều ruộng mới khá giả còn đa số người làm công chỉ sống đắp đổi, không thể khá được.
Trước kia, khi phải vận chuyển muối lên xe hay xuống ghe, tất tất đều phải gánh trên vai của người phụ nữ. Quê tôi nữ giới giỏi giang lắm. Đã có trường hợp người nơi khác về làm dâu ở đây không làm được công việc của các cô các bà vốn sinh đẻ tại chỗ. Cái bờ dưới ruộng muối chỉ rộng khoảng ba tấc, vậy mà người ta gánh gánh muối nặng quằn chạy vù vù không bị trật chân ra khỏi mé bờ nhỏ ấy.
Ngày nay, muối dưới ruộng vẫn phải gánh lên đổ đống trên sân bằng sức người. Nhưng khi bán, muối từ đống trên sân chở đưa lên xe vận tải lớn chở ra bán tận Đà Nẵng, Huế... Người ta không còn phải gánh như xưa vì đã có đường và dùng xe 2 bánh để "thồ" mấy bao một lúc vừa nhanh, nhiều, đỡ mất sức lao động hơn hồi đó.
Ruộng chỉ có chừng ấy, con người thì sinh sôi ra ngày càng nhiều, càng đông. Hợp tác xã chủ trương khi xã viên qua đời, con mới được kế thừa. Không thu xã viên mới nên con cái người ta phải đi xa kiếm việc làm ăn. Nhiều ngành nghề mới phát triển để giải quyết công ăn việc làm cho người sống bám trụ ở quê. Vì vậy Tuyết Diêm bây giờ không còn đơn nghề mà có nhiều nghề phong phú, một số người làm việc trong mát thoải mái hơn.
Làng Tuyết Diêm có đường quốc lộ 1A chạy ngang qua, lại có một khu vực quán xá cặp theo Quốc lộ ở gần làng, khách lạ thập phương luôn nhộn nhịp nhưng làng xóm rất an ninh; Cuộc sống người dân sống khá yên bình, không có tệ nạn xì ke ma túy, thật đáng mừng. Đầm Cù Mông nằm bìa làng muối Tuyết Diêm là điểm du lịch khá hấp dẫn du khách các nơi đến. Các món ăn đồ biển như ghẹ, ốc nhảy, cá mú... nổi tiếng ngon nên người Quy Nhơn, Sông Cầu và các xe đường dài thường ghé lại đây ăn uống nghỉ ngơi thoải mái, vui cảnh làng quê thanh bình.
Ngày nay đời sống cả nước được cải thiện, Tuyết Diêm cũng phát triển kinh tế khá hơn xưa nên đa số nhà lợp ngói hoặc lợp tôn, tường xây sân lát gạch, không còn nhà tranh vách đất nữa. Đời sống văn hóa trình độ con người cũng tiến vượt bậc, có điện nhà nào cũng có ti vi, vi tính nối mạng internet, điện thoại di động sóng ổn định. Xe hai bánh nhà vài ba chiếc, có người mua xe hơi chở khách chở hàng, đời sống được nâng cao cả kinh tế văn hóa. Rất nhiều người tốt nghiệp đại học tìm việc làm ở thành phố, nhiều gia đình có cuộc sống không thua gì người thành thị.
Mỗi lần thăm quê, khi trở về thành phố: trong gói quà quê của tôi không thể thiếu muối hầm của quê hương. Có những chuyến đi công tác tiện xe tôi chở cả tạ muối này về làm quà.
Món quà nhỏ, giá trị thấp nhưng là sản phảm "chất lượng cao", ở thành phố chỉ có muối bọt nấu từ muối hạt chứ ít có muối hầm trắng tinh, khô, nêm nếm rất ngon như thế. Nó chỉ "quý" đối với người cùng quê hiện đang sống ở đây hoặc người từng dùng muối hầm người ta mới vui mừng khi có được món quà ấy.
Chú thích:
1. Có 2 loại tran: tran dùng cào muối chiều cao lưỡi tran to hơn lưỡi tran dùng đẩy bùn làm vệ sinh da ruộng.
2. Cả nước có 7 đồng muối lớn, thì Ninh Thuận có 3 là: Cà Ná, Tri Hải và Đầm Vua. Sản lượng muối Ninh Thuận chiếm 50% tổng sản lượng muối cả nước. Ninh Thuận có lợi thế bờ biển dài hơn 105 km, nước biển độ mặn cao, năng lượng bức xạ lớn, nhiều nắng gió... Toàn tỉnh Ninh Thuận có 2.371 ha đất muối, trong đó có 1.891 ha muối công nghiệp (nền xi măng) và 480 ha muối nền đất (riêng huyện Ninh Hải chiếm 445 ha) loại muối ăn như muối Tuyết Diêm)..